Phạm Xuân Ẩn và “The Spy Who Loved Us” Ph 2

Trước khi nói tiếp về ông Phạm Xuân Ẩn và cuốn “The Spy Who Loved Us” của tác giả Thomas Bass, xin tŕnh bày thêm về 16 huy chương ông Ẩn được nhà nước cộng sản Việt Nam ban tặng; trong số này, có bốn cái đặc biệt tuyên dương sự đóng góp của ông cho bốn chiến dịch quan trọng. Một huân chương dành cho trận Ấp Bắc, một cho cuộc tấn công Sài G̣n vào dịp tết Mậu Thân năm 1968, và hai huân chương hạng nhất, một cái cho năm 1970, khi ông Ẩn đă báo trước cho bộ tư lệnh quân đội cộng sản để tránh được cuộc tấn công của quân đội Hoa Kỳ và miền Nam qua Cam Bốt. Huân chương hạng nhất thứ nh́ dành cho vai tṛ then chốt ông Ẩn đảm nhiệm  trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, khi quân đội miền Nam bị tiêu hao lớn trong một nỗ lực đánh qua Lào và cắt đường ṃn Hồ Chí Minh năm 1971 bị thất bại.

Trận Ấp Bắc xảy ra vào tháng Một năm 1963, khoảng gần tám mươi cây số phía đông nam Sài G̣n. Trận chiến này có giá trị đối với Việt cộng ở chỗ, đây là lần đầu tiên họ tấn công quân đội miền Nam một cách chính quy, và thành công lớn, khác với lối đánh du kích trước đó, giữa ba trăm rưỡi Việt cộng và sư đoàn 7 của Việt Nam Cộng ḥa. Chỉ trong những phút đầu tiên mở màn trận đánh, mười bốn trong mười lăm chiếc trực thăng bị đánh trúng mục tiêu, bốn chiếc trực thăng bị bắn rơi và chiếc thứ năm bị rớt trong lúc di tản thương binh. Phía Việt cộng có ba mươi chín người bị thương, mười tám người thiệt mạng, quân đội Việt Nam Cộng ḥa có tám mươi người thiệt mạng và một trăm người khác bị thương, chưa kể thương vong từ phía Hoa Kỳ. [trang 136] Theo nhà báo người Tân Tây Lan, trưởng văn pḥng Reuters ở Sài G̣n trong thời gian đó ông Nick Turner nghi ngờ rằng “Ông Ẩn có thể đă cung cấp tin tức về chiến thuật, nguyên tắc  giao chiến, hậu cần và t́nh trạng chuẩn bị của quân đội miền Nam và cả Hoa Kỳ trong khu vực đó – cũng như những lời cố vấn quư giá của ông - cho quân đội cộng sản để thành công trong trận Ấp Bắc này.” [trang 138]

Cuộc hành quân Lam Sơn 719, xảy ra năm 1971 khi quân đội Việt Nam tấn công qua Lào nhằm cắt đứt đường ṃn Hồ Chí Minh, ông Ẩn đă cung cấp tin tức kịp thời để quân đội cộng sản bắc Việt chuẩn bị và phản công thành công, đưa đến tám ngàn thương vong cho phía Việt Nam Cộng Hoà, ngoài ra một trăm chiếc trực thăng và một trăm năm mươi chiếc xe tăng của quân đội miền Nam bị bỏ lại ở rừng già của Lào. [trang 217] Mặc dù hỏa lực của quân đội miền Nam mạnh mẽ, nhưng kế hoạch hành quân cũng như địa điểm ngày giờ đổ bộ bị tiết lộ, nên có thể nói quân đội miền Nam bị “phục kích” trong trận này.  Ông Ẩn là người cung cấp tin tức t́nh báo chiến thuật cho quân đội cộng sản kịp thời.

Cuộc tấn công miền Nam của quân đội cộng sản năm 1968, như đă tŕnh bày, là một sự thất bại trầm trọng cho cộng sản về phương diện quân sự, nhưng lại là một thành công lớn trên mặt trận chính trị và ngoại giao, làm phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ lên cao, tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson thất cử và tướng William Westmoreland bị thuyên chuyển.  Chính ông Ẩn là người giải thích điều này cho những người lănh đạo cộng sản. [trang 204]

Như là người cuối cùng của văn pḥng báo Time ở Sai G̣n sau 1975, ông Ẩn, theo định nghĩa, trở thành trưởng văn pḥng này cho đến ngày 3 tháng Năm năm 1976. Nhưng ông viết rất ít trong thời gian một năm sau đó. “Sau 75, Sài G̣n trở thành Hồ Chí Minh,” ông nói. Sự kiểm soát ngặt nghèo của chế độ cộng sản làm ông không muốn viết, v́ ông “không biết làm thế nào để tránh sự kiểm duyệt.” Ông nói: “Tất cả những ǵ họ muốn là tuyên truyền cho chế độ mới, nên tôi chơi đá gà, đá cá cả ngày để tiêu khiển.”

Tháng Mười Hai năm 1976, nhà nước cộng sản Việt Nam chính thức công bố những hoạt động của ông Ẩn, và đưa ông ra ánh sáng. Ông đi Hà Nội dự Đại hội Đảng lần thứ Tư như là một đại biểu của Quân đội Nhân dân cuối năm đó, và lần đầu tiên ông mặc quân phục. Ông nói nhiều Việt cộng từ miền Nam ra lấy làm ngạc nhiên khi thấy tôi. “Họ nghĩ CIA đă bỏ tôi lại.”

Trong lúc hằng trăm ngàn người của quân đội và chính quyền miền Nam bị đi tù, lao động khổ sai, th́ ông Ẩn được gởi đi học mà ông đùa là “đi cải tạo”. Tháng Tám năm 1978, ông Ẩn đi học mười tháng về tư tưởng Marxist-Maoist dành cho đảng viên cấp cao ở Học viện Chính trị Hồ Chí Minh ở Hà Nội. “Tôi sống trong ḷng địch quá lâu, nên họ gởi tôi vào đây để tái sinh (phế liệu cũ).”

Theo lời ông kể lại, ông là một học sinh tồi, điểm ra trường thấp gần cuối lớp. “Họ không thích chuyện tiếu lâm của tôi,” ông nói: “người Bắc khắc khổ cố dạy tôi thứ tiếng Việt đầy rẫy danh từ chính trị vay mượn từ Tàu.” Ông khốn khổ với những cơn mưa mùa đông lạnh tới xương của Hà Nội, ngủ trên giường gỗ với nệm bông. “Tôi mặc áo bông Trung Quốc làm tôi trông như cái xác ướp. Tôi yêu cầu cho tôi một cái áo khoác của Nga nhưng vẫn lạnh, nên tôi trở lại xin cấp cho một cái áo khoát một trăm mười một độ C.” “Là cái ǵ vậy?” ông viện trưởng hỏi. “Ba cô con gái, một cô ngủ bên phải tôi, một cô ngủ bên trái và một cô nằm trên tôi.”

-         “Họ không thích tôi chút nào,” ông Ẩn nói về những người cải tạo chính trị cho ông. “Nhưng tôi cũng chưa làm ǵ sai lầm lớn quá để bị bắn.”  [trang 224]

Năm 1997, Hội Á châu ở Nữu Ước, Hoa Kỳ có tổ chức một hội nghị và mời ông Phạm Xuân Ẩn tham dự như là khách đặc biệt. Nhưng nhà nước Việt Nam từ chối lời yêu cầu của ông, không cho ông đi. Tháng Ba năm 2002, lúc đang 74 tuổi và bị bệnh khí thủng, ông được phép về hưu. Ông “về hưu” lần nữa năm 2005, nhưng thực ra, ông vẫn làm việc cho đến ngày qua đời. “Họ muốn kiểm soát tôi,” ông Ẩn nói. “Đó là lư do họ giữ tôi lại trong quân đội quá lâu. Tôi ăn nói văng mạng. Họ muốn tôi ngậm miệng lại.”

Theo tác giả Bass, “chúng ta có thể tin chắc tối thiểu ba mươi năm sau ngày chiến tranh chấm dứt, ông Ẩn vẫn là một t́nh báo hoạt động năng nổ trong ngành t́nh báo Việt Nam.” [trang 230]

Cũng trong năm ông Ẩn chính thức về hưu năm 2002, đảng Cộng sản Việt Nam xét đến chuyện cho phép xuất bản cuốn tiểu sử và đời hoạt động của ông, mang tên “Phạm Xuân Ẩn: Tên người như cuộc đời” do tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải viết. Cùng lúc, báo Thanh Niên cho đi một bài tương tự về ông dài 53 phần. Cuốn tiểu sử thứ ba “Người im lặng” do tác giả Chu Lai của Tổng cục T́nh báo II (TC2) xuất bản. Ở nước ngoài, có hai cuốn nói về ông là “Un Vietnamien Bien Tranquille” của tác giả Jean-Claude Pomonti (phóng viên báo Le Monde), và Perfect Spy của giáo sư Larry Berman. [trang 231]

Image result for phạm xuân ẩn photos

Larry Berman và Phạm Xuân Ẩn

Một điểm lư thú khác mà tác giả Bass đề cập tới, là nhà của ông Ẩn có rất nhiều sách, đa số là tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, và rất ít sách tiếng Việt. “Người ở đây không được viết một cách tự do,” ông giải thích: “Đó là một lư do tôi sẽ không viết về đời ḿnh. Tôi sẽ gặp rắc rối nếu tôi nói về cuộc đời tôi và những ǵ tôi biết.” [trang 239] Trong một lần khác, ông Ẩn nói: “Lư do mà chúng tôi không có lịch sử Việt Nam được viết bởi sử gia Việt Nam, là v́ người ta không được phép viết về sự thật. Đó là lư do tất cả sách trên kệ của tôi được viết bởi người ngoại quốc.” [trang 252]

Có lần, trong cuộc nói chuyện giữa ông Ẩn và tác giả Thomas Bass, trong lúc ông Ẩn kéo hộc tủ ra t́m mấy tấm h́nh cũ cho ông Bass xem, ông Bass thấy cái huân chương gắn liền với cái tua đỏ. “Cái ǵ vậy?” ông Bass hỏi. “Họ cho tôi những cái này,” ông nói: “Tôi cũng không biết nó là cái ǵ, có ư nghĩa ǵ. Tôi làm việc trong bóng tối. Tôi chết trong bóng tối.” Vừa nói ông Ẩn vừa đóng hộc tủ lại, khi bên ngoài cơn mưa buổi chiều nặng hạt vừa đi qua thành phố Sài G̣n.

Lần cuối cùng tác giả Thomas Bass gặp ông Phạm Xuân Ẩn ở Sài G̣n là tháng Một năm 2006, ông Ẩn tâm sự: “Tôi muốn hoả táng. Tôi thích rải cốt tôi xuống sông Đồng Nai, gần nơi tôi sinh ra. Nhưng tùy họ quyết định.” Họ đây là đảng Cộng sản Việt Nam. “Tôi không muốn ai thăm viếng mộ tôi. Người ta nên dành th́ giờ và năng lực cho những điều hữu ích hơn. Tôi giống như ông Hồ Chí Minh; ông ta cũng không muốn có lăng tẩm ǵ.”

Khi được hỏi liệu ông ta vẫn muốn ném cả đời ḿnh vào cuộc chiến này như một nhà cách mạng. Ông trả lời: “Tôi không bao giờ là nhà cách mạng. Tôi là một kẻ lăng mạn, yêu thương thiết tha quê hương tôi và mong muốn bảo vệ đất nước ḿnh cho đến chết.” Ông Ẩn viết vào sổ tay của tác giả Bass hai chữ “lăng mạn” và “cách mạng”, một cách chơi chữ của ông Phạm Xuân Ẩn.

Tác giả Bass có hỏi ông Ẩn một câu hỏi nhạy cảm, về chuyện tổng cục T4-TC2, là hai bộ phận khác nhau và ḱnh nhau của nhà nước Việt Nam, giữa hai nhóm thân Trung Quốc chống nhóm ông Vơ Nguyên Giáp và những người đồng chí cũ của ông. Ông Giáp cho rằng hăm dọa lẫn đút lót của Trung Quốc đă làm Việt Nam sợ hăi và trở thành một nước chư hầu của Trung Quốc. Ông Ẩn có đưa cho ông Bass xem lá thư dài 17 trang của tướng Giáp “than phiền về T4-TC2”. Ông Ẩn nói: “Tôi nghĩ ông Giáp đúng, mặc dù tôi không chọn phe nào. Tôi được huấn luyện để khách quan.” Ông nói thêm: “Tôi thích chính trị. Tôi không thích chính trị gia. Nếu anh muốn giết con chó, anh nói v́ con chó bị dại. Đó là điều họ đang cố làm cho tướng Giáp. Tiếng Anh gọi cái này là ǵ? “Giết thanh danh”. Khó mà biết rơ nếu người Tàu có đút lót (cho Việt Nam).  Chuyện này liên quan đến quá nhiều gian trá, thủ đoạn. Cái mà chúng tôi biết là Việt Nam đă chôn vùi câu chuyện chiến tranh đánh Trung Quốc năm 1979. Chúng tôi đă xoá sạch cái kư ức của chúng tôi.” [trang 252]

Cũng ngay chính trong lần gặp gỡ cuối cùng giữa hai ông trong tháng Một năm 2006 đó, ông Ẩn trở lại với cái chết của ông trước khi tác giả Bass giă từ, rằng ông muốn hỏa táng và rải cốt của ông ở sông Đồng Nai, gần Biên Ḥa nơi ông sinh ra.

Chín tháng sau, tháng Chín năm 2006, ông Phạm Xuân Ẩn qua đời. Ông được chôn cất ở nghĩa trang Thủ Đức, dành cho Anh hùng Quân đội với đầy đủ nghi lễ danh dự của quân đội. Tham dự tang lễ có ông Vơ Văn Kiệt, cựu thủ tướng nhà nước CHXHCN Việt Nam, và tướng Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 đọc điếu văn.

Nghĩa trang này nằm dọc quốc lộ Biên Hoà, với khoảng năm trăm ngôi mồ, được xây dựng và bảo quản như một công viên. Bên kia xa lộ, là nghĩa trang dành cho những người lính miền Nam, đă một thời chiến đấu khác phe với ông Ẩn trong suốt cuộc chiến, mộ chí của họ đầy cỏ dại, và mộ bia nức nẽ, đổ xiên xẹo trên mặt đất. [trang 261]

Trong bài ai điếu của ông Frank McCulloch, người sếp đầu tiên của ông Ẩn khi ông làm việc cho báo Time ở Sài G̣n năm 1965, ông McCulloch viết: “Trong thời gian ông làm việc cho tôi ở văn pḥng Time Sài G̣n, chưa một lần ông Ẩn đưa tin với quan điểm riêng tư hay xào nấu tin tức để có lợi cho Cộng sản. Một cách nghịch lư, ông thực t́nh yêu mến nước Mỹ và nền dân chủ của Mỹ, và ông rất kính nể và trân trọng ngành báo chí tốt đẹp ở Hoa Kỳ.” Ông McCulloch chấm dứt bài ai điếu với lời t́nh tự mang tính riêng tư: “Tôi vẫn kính trọng anh, Ẩn, như là một người bạn, một nhà báo, một phức thể và một người yêu dân chủ rất mâu thuẩn, một người chồng, một người cha, và có lẽ, trên hết, như một người Việt Nam yêu nước, mà có thể, hay không có thể, đă đánh cược canh bạc lớn nhất đời ḿnh nhầm con ngựa (ở trường đua - HNA).”

Như đă tŕnh bày, bài viết này hoàn toàn dựa vào cuốn “The Spy Who Loved Us” của nhà báo và giáo sư khoa báo chí Thomas Bass, nhằm trích ra một vài đoạn “thú vị” để tŕnh bày với những ai chưa có dịp đọc cuốn sách này. Chỉ có một điều duy nhất mà người viết muốn nói ở đây, là cầu chúc cho niềm mong ước cuối đời ông Phạm Xuân Ẩn sẽ có ngày được toại nguyện, đó là thi hài ông được hoả táng và rải cốt ông xuống sông Đồng Nai, gần Biên Hoà nơi ông sinh ra; để từ ḍng sông đó, ông yêu mến thiết tha cái quê hương của ông, và sẵn sàng bảo vệ quê hương ḿnh cho đến chết;  cho dẫu nói như ông Frank McCulloch, rất có thể ông đă phí canh bạc đời ḿnh, khi chọn lầm phe – phe cộng sản độc tài, đă một thời núp dưới chiêu bài dân tộc để lừa gạt người dân Việt Nam, và giờ là núp dưới điều 4 Hiến pháp để tồn tại.

 

Hồ Ngọc Ánh

 

Nguồn:

(1)
The Spy Who Loved Us (ISBN 978-1-58648-409-5), của tác giả Thomas Bass được nhà xuất bản PublicAffairs, một thành viên của Perseus Books Group phát hành năm 2009. Tác giả hoàn toàn giữ bản quyền.

(2) Ông Thomas Bass, là tác giả của The Eudaemonic Pie, The Predictors, Vietnamerica và những tác phẩm khác. Ông cũng là nhà báo viết cho The New Yorker, Wired, Smithsonian, The New York Times, và một số cơ sở truyền thông khác. Ông Thomas Bass là giáo sư môn Anh Văn và Báo chí của trường Đại học Tiểu bang Nữu Ước, thành phố Albany.


(3) Những đoạn trích trong bài này được lấy từ cuốn "The Spy Who Loved Us" với số trang đi kèm nếu người đọc muốn đối chiếu.

 

(4) Sau khi viết bài này, tôi (HNA) có liên lạc với nhà báo Thomas Bass qua e-mail nhằm cho ông hay và xin phép cho tôi được làm như thế để chia sẻ thông tin với bạn bè, thân hữu. Ông vui vẻ trả lời ngay “cứ tự nhiên, nhưng cho tôi hay những đoạn nào anh trích?” Tôi gởi nguyên bản bằng tiếng Việt này cho ông với chú thích trang của những đoạn trích, v́ tôi biết chắc ông có những cộng tác viên người Việt có thể đọc và cho ông hay tôi viết cái ǵ, và dịch có đúng ư ông không. Trong một vài e-mail qua lại sau đó, ông than phiền là cuốn sách “The Spy Who Loved Us” của ông đang được dịch sang tiếng Việt ở Việt Nam, bị cắt xén rất nhiều, ngay cái tựa đề cũng bị đổi, nên ông không đồng ư cho xuất bản. Đó là cuối năm 2010. Gần bốn năm sau, tôi t́nh cờ đọc một bài viết của ông giải thích tường tận chuyện sách ông bị cắt, xén, xuất bản như thế nào ở Việt Nam cho dẫu không được sự đồng thuận của ông, sau một chuyến đi về Hà Nội t́m hiểu sự thật của ông. Bản tiếng Anh của chính ông Bass viết “Swamp of the Assassins: On Being Censored in Vietnam”, phần I, được Phạm Hồng Sơn dịch ra Việt ngữ tháng 11 năm 2014 với tựa đề “Rừng Sát: Hiện tượng kiểm duyệt tại Việt Nam”, và được đăng trên trang mạng pro&contra. Mọi người có thể đọc qua link sau đây: http://www.procontra.asia/?p=5828

Nguyên bản tiếng Anh: https://www.indexoncensorship.org/swamp-of-the-assassins-on-being-censored-in-vietnam-1 . Toàn bộ bài viết gồm 13 phần tất cả của nhà báo Thomas Bass được đăng trên website “Indexoncensorship.org” này.